Các loại bệnh thường gặp trên hoa Lan

Bệnh thối mềm: Vết bệnh có dạng bất định, ủng nước, màu trắng đục, thường lan rộng theo chiều rộng của phiến lá. Trong điều kiện ẩm độ cao sẽ gây hiện tượng thốu úng. Trong điều kiện khô ráo, mô bệnh khô, teo tóp và có màu trắng xám. Bệnh do vi khuẩn Pseudomonas Glagioli gây ra.

Phong Lan cũng giống như những loài thực vật khác, dễ dàng mắc các loại bệnh khiến cây không sinh trưởng tốt. Nhận biết loại bệnh thường gặp trên hoa lan để có cách phòng trừ thích hợp là điều cần thiết đối với những người trồng hoa.

1.Bệnh hoa Lan  do virus:

Bệnh do virus gây ra trên hoa lan thường xuất hiện ở 2 dạng sau: virus gây khảm lá và virus làm khằn cây.

Virus gây khảm lá:

Hiện tượng: vàng trên lá và hoa. Ở lá non có những sọc hay đốm màu xanh nhạt hay màu vàng xen kẻ với những vệt xanh đậm trên phiến lá. Trên những cây bị nhiễm nặng, cây không phát triển, bộ rễ còi cọc

Nguyên nhân: vườn lan kém chăm sóc hoặc trên những cây lan bị tách chiết nhiều lần mà không khử trùng dụng cụ. Rầy rệp chích hút cũng là một trong những tác nhân làm lây lan dạng bệnh này.

Cách phòng ngừa: không có thuốc đặc trị, chỉ có thể cách li cây và chăm sóc riêng nếu cây nhiễm nhẹ. Còn nặng thì buộc phải đốt bỏ để tránh lây lan sang các cây khỏe mạnh.

2. Bệnh do vi khuẩn: gồm có 2 bệnh phổ biến

Bệnh thối nâu: Vết bệnh màu nâu nhạt, hình tròn, mọng nước, về sau chuyển sang màu nâu đen. Bệnh gây hại trên lá, thân, mầm gây nên hiện tượng thối (có mùi khó chịu). Nguyên nhân bệnh do khuẩm Erwinia carotovora gây ra.

Bệnh thối mềm: Vết bệnh có dạng bất định, ủng nước, màu trắng đục, thường lan rộng theo chiều rộng của phiến lá. Trong điều kiện ẩm độ cao sẽ gây hiện tượng thốu úng. Trong điều kiện khô ráo, mô bệnh khô, teo tóp và có màu trắng xám. Bệnh do vi khuẩn Pseudomonas Glagioli gây ra.

Phòng ngừa: Ngay lập tức loại bỏ các mô bị nhiễm bệnh bằng cách sử dụng một công cụ vô trùng, phun thuốc sát khuẩn như Physan, Antracol, Dithane, Aliette… hoặc hợp chất đồng trên cây trồng bị nhiễm và cây liền kề theo hướng dẫn trên nhãn (đồng không nên sử dụng trên dendrobiums hoặc cây có hoa), khử trùng khu vực trồng bằng dung dịch thuốc tẩy 10%. Xử lý các cây gần đó cũng như những cây bệnh.

3. Bệnh do nấm:

Bệnh đen thân cây con: Vết bệnh xuất hiện ở gốc thân hoặc cổ rễ, có màu nâu, sau đó lan dần làm khô đoạn thân gần gốc và cổ rễ, vết bệnh chuyển sangmàu đen. Lá chuyển sang màu vàng, cong dị hình. Cây con bị bệnh thường chết sau 2-3 tuần, trong căn hành thường có vệt màu tím hay hồng nhạt.

Nguyên nhân: Bệnh do nấm Fusarium oxysporum gây ra.

Bệnh đốm lá: Vết bệnh thường có hình thoi hoặc hình tròn nhỏ màu xám nâu, xuất hiện ở mặt dưới lá. Bệnh làm vàng lá, dễ rụng, cây sinh trưởng kém. Bệnh do nấm Cercospora sp gây ra.

Phòng trừ: Nên tách những cây bị bệnh để riêng và dùng thuốc phòng trừ hay nhúng cả cây vào thuốc trị nấm. Nếu cây lớn hơn thì cắt bỏ phần thối rồi phun thuốc diệt nấm như Carbenzim, Zin,  Zineb 3/2000, Benlat 1/2000, Bendazol.

Bệnh thán thư: Vết bệnh thường có hình tròn nhỏ, màu nâu vàng, xuất hiện từ mép lá, chóp lá hoặc giữa phiến lá, kích thước trung bình 3-6mm. Giữa vết bệnh hơi lõm có màu xám trắng, xung quanh có gờ nhỏ màu nâu đỏ, trên mô bệnh có nhiều chấm nhỏ màu đen.

Nguyên nhân: Bệnh do nấm Colletotrichicm gloeosrioides gây ra.

Cách phòng trừ: Thường cắt bỏ lá vàng rồi phun thuốc diệt nấm 5 – 7 ngày/phun 1 lần: Thio-M, Cabenzim, Bendazol.

Bệnh thối hạch: Xuất hiện trên gốc thân, vết bệnh màu vàng nhạt, chuyển dần sang màu vàng nâu, thân cây teo tóp, lá vàng, nhăn nheo, cây sinh trưởng yếu, bệnh nặng sẽ gây chết cây.

Nguyên nhân: Bệnh do nấm Sclerotium rolfsu gây ra.

Bệnh đốm vòng trên cánh hoa: Vết bệnh nhỏ, màu đen hơi lõm, hình tròn có vân đồng tâm. Bệnh gây hại chủ yếu trên hoa làm hoa kém màu sắc và mau tàn. Trên mô bệnh thường có lớp nấm màu đen, gặp điều kiện nóng ẩm kéo dài sẽ gây ảnh hưởng đến cả bộ lá.

Nguyên nhân: Bệnh do nấm Alternaria Ap gây ra.

Bệnh đốm nâu trên cánh hoa: Vết bệnh ban đầu là một chấm nhỏ màu nâu, hơi lồi, về sau lan rộng thành đốm lớn màu nâu nhạt. Bệnh làm hoa mất giá trị.

Nguyên nhân: Bệnh do nấm Curvularia eragotidis gây ra.

Bệnh thối đen ngọn: Vết bệnh ban đầu là một điểm nhỏ, ủng nước, có màu nâu đen. Bệnh gây hại chủ yếu trên lá non, ngọn và chồi cây lan làm cho đỉnh bị thối nhũn lan dần xuống dưới làm lá và cuống lá bị thối, dễ rụng. Bệnh có thể gây thành dịch trong điều kiện ẩm độ cao với nhiệt độ khoảng 200C.

Bệnh do nấm Phytopthora palmivora gây ra.

Bệnh đốm lá: Ban đầu vết bệnh là một đốm nhỏ màu vàng hơi lõm, phát triển dần theo chiều dọc của lá và về sau có hình bầu dục, ở giữa có màu trắng xám, xung quanh có màu nâu đen. Giữa mô bệnh và mô lành có một quầng màu nâu đỏ.

Cách phòng trừ: Phun thuốc trừ nấm (như trên) Carbenzim + Dipamate: hỗn hợp thuốc hiệu quả cao hay Cadilac.
4. Bệnh thường gặp trên lan do côn trùng gây hại:

Bọ trĩ: Là loại côn trùng nhỏ, có màu vàng nhạt. Chích hút trên trên lá non để lại những đốm vuông màu vàng sáng, sau chuyển dần sang màu nâu đen. Chích hút trên cánh hoa để lại những vết chích trong suốt và có một chấm vàng ở giữa.

Cách phòng trừ: Dùng Malathion 5 mg/bình 4 lít nước, phun 1 tuần/lần, phun liên tiếp liên tục trong 3 tuần, Dragon (5cc) + SK99 (20cc)/bình 8 lít.

Nhện đỏ: Là một dạng ve ký sinh, di chuyển nhanh, lúc nhỏ có màu vàng cam, khi trưởng thành có màu đỏ. Khi chích hút chúng để lại trên lá, hoa những đốm nhỏ màu nâu. Thường phổ biến trong những vườn lan thiếu chăm sóc hoặc bị khô hạn kéo dài.

Rệp: Đây là loại côn trùng gây hại phổ biến trên nhiều vườn lan, thường tập trung chích hút ở lá non, chồi non, đầu rễ, phát hoa, chồi hoa, làm cho cây phát triển còi cọc, hoa bị rụng cuống hoặc không nở. Rệp chích hút tạo thành những vết vàng nâu hoặc thâm đen. Sản phẩm bài tiết của chúng tạo điều kiện cho nấm than đen phát triển, nhất là trong điều kiện mưa ẩm kéo dài.

Cách phòng trừ: Dùng bàn chải chà xát rồi nhúng cây lan vào dung dịch thuốc Malathion 50 pha loãng, Sagosuper 20EC.

Sâu hại: Có nhiều loại sâu hại, nhưng thường gặp là sâu khoang (Spodoptera sp), thường cắn phá chồi non, phát hoa non.

Oc sên, Nhớt: là các loài nhuyễn thể, thường tập trung cắn phá vào ban đêm. Các đoạn rễ non, cây non, chồi, phát hoa là những mục tiêu cắn phá chính của các loài nhuyễn thể.